Khoa Công nghệ sinh học & CNTP
Thông tin tuyển sinh 2019
WEBSITE CÁC ĐƠN VỊ
Trang chủ Nghiên cứu Thông tin NCKH
30/04/2016 17:33 - Xem: 1406

Trà xanh và tác dụng đến các loại ung thư (Phần 1).

EGCG trong trà xanh ức chế NNK, làm giảm đi sự hình thành u bướu trong phổi (Wang et al 1992; Shi et al., 1994; Xu et al., 1992), EGCG ức chế NMBzA giảm đi u bướu trong thực quản (Wang et al, 1995). EGCG ức chế N-ethyl-N’-nitrosoguanidine (ENNG) làm giảm tỷ lệ hình thành u bướu tại đường ruột Fujita và cs (1989).

Trà xanh lọai trà bột Matcha powder

            1-Làm giảm đi các lọai u bướu lành tính và ác tính trong các cơ quan dạ dày, phổi, thực quản, đường ruột:

Theo các kết quả nghiên cứu trước đây của các nhà khoa học trên thế giới bằng chuột thí nghiệm, N-methyl-N’–nitro-N-nitrosoguanidine (MNNG) là một trong những tác nhân gây ung thư dạ dày, N-4-(methyl-N- nitrosoamino)-1-(3-pyridyl)-1-butanone (NNK) là một trong những tác nhân gây ung thư phổi, N-nitrosomethylbenzamine (NMBzA) là một trong những tác nhân gây ung thư thực quản, N-ethyl-N’-nitrosoguanidine (ENNG) là một trong những tác nhân gây ung thư đường ruột. Theo nghiên cứu của Yamane T và cs (1995), EGCG ức chế MNNG, làm giảm tỷ lệ u bướu dạ dày của chuột thí nghiệm. Theo Kativar và cs (1993), Shi và cs (1994),Wang (1992), sự ức chế của EGCG trên NNK làm giảm tỷ lệ u bướu trên phổi của chuột thí nghiệm. Khi dùng theo đường uống, các thành phần từ trà xanh có khả năng ức chế N-nitrosodiethylamine trong thượng vị và trong phổi chuột thí nghiệm,Wang và cs (1992), khi sử dụng theo đường uống, EGCG trong trà xanh ức chế NNK, làm giảm đi sự hình thành u bướu trong phổi (Wang et al 1992; Shi et al., 1994; Xu et al., 1992), EGCG ức chế NMBzA giảm đi u bướu trong thực quản (Wang et al, 1995). EGCG ức chế N-ethyl-N’-nitrosoguanidine  (ENNG) làm giảm tỷ lệ hình thành u bướu tại đường ruột Fujita và cs (1989).

Các kết quả thí nghiệm sau đây do Nakachi và cs (1997) thực hiện trên trên các đối tượng nghiên cứu có độ tuổi khác nhau về lượng trà xanh tiêu thụ mỗi ngày và cái chết có liên quan đến ung thư, như sau:

 

Đối tượng                  Tuổi và số ly green tea tiêu thụ mỗi ngày:

                             ≤ 3 cups                     4-9 cups                  ≥ 10 cups     

Đàn ông          66.4  ±1.8  (41)           69.5± 1.3 ( 66)        70.0± 1.5 (46)  

Đàn bà            67.3 ± 2.3  (31)           70.7 ±1.4  (59)        75.1 ± 2.6  (19)

Trung bình     66.8  ± 1.4  (72)           70.1± 0.9  ( 125)     71.5 ± 1.3  (65)

(Nguồn:  Nakachi và cs., 1997)

Giải thích: Thí nghiệm bố trí trên 32000 người; về đàn ông, nhận thấy có 46 người chết tuổi trung bình trên 70± 1.5 , uống trên 10 ly trà mỗi ngày. (có nghĩa là số người đàn ông tham gia thí nghiệm này nằm trong số tuổi khỏang 68.5 tới 71.5). Người ta cũng nhận thấy có 41 người chết ở lứa tuổi trung bình 66±1.8 , uống ít hơn 3 ly.. Còn 66 người chết ở tuổi trung bình 69.5±1.3, uống từ 4-9 ly/ngày.

Về đàn bà, kết quả thí nghiệm cho thấy có 19 người chết vì ung thư ở tuổi trung bình là  75.1 ± 2.6 khi thấy họ uồng trên 10 ly, có 31 người chết ở tuổi trung bìng là 67.3 ± 2.3 khi nhận thấy họ dùng ít hơn 3 ly, người ta nhận thấy có 59 người chết vì ung thư ở tuổi trung bình 70.7 ± 1.4 , người ta nhận thấy họ uống từ 4 đến 9 ly. Sở dĩ có sự khác nhau như vậy, có thể do sự khác nhau giữa cơ thể của đàn ông khác đàn bà, và kết quả điều tra cũng thấy rằng khi họ  hút thuốc nhiều thì lại uống trà càng nhiều. Về phía đàn ông, số người chết vì ung thư  là 46 khi họ uống trên 10 ly, chết vì ung thư là 66 khi uống từ 4-9 ly, bởi vì, dù uống trà xanh nhiều, nhưng lại hút thuốc quá nhiều, nên thuốc lá làm giảm đi hiệu quả chống ô xy hóa do trà mang lại.

Một cuộc khảo sát khác cho những người trên 40 tuổi, gồm trên 32,000 người trong năm, thì tỉ lệ chết vì ung thư ( ±SE), và tiêu thụ trà xanh mỗi ngày như sau:

 

 Đối tượng          Tỉ lệ chết ung thư và số trà xanh (ly/ngày) tiêu thụ

                                          ≤ 3             4-9                    ≥ 10

Đàn ông                    140.3 ± 22.3     114 ± 14.2       158.3 ± 25.9

Đàn ông không

bao giờ hút thuốc b      97.0 ± 26.7       98.1 ± 20.6      64.2 ± 28.5

Đàn bà                        72.8 ± 13.3       66.2 ± 9.1       57.7 ± 15.5

(Nguồn: K Nakachi và cs., 1997)

b Đàn ông không hút thuốc lá chết vì ung thư là 14, 25 và 6 theo thứ tự số ly trà uống ≤ 3, 4-9, ≥ 10 mỗi ngày. Theo  Nakachi K và cs (1997), kết quả nghiên cứu trên có thể kết luận rằng phụ nữ tiêu thụ trên 20 ly trà mỗi ngày, tỷ lệ chết do ung thư giảm đi khoảng 20%. Ngược lại, về đàn ông, tỷ lệ chết do ung thư không giảm khi tăng lượng trà xanh tiêu thụ, điều này có thể là do đàn uông thường sử dụng thuốc lá khi uống trà. Để xác minh rõ hơn, thí nghiệm được lặp lại giữa nhóm đàn ông hút thuốc và không hút thuốc, kết quả cho thấy sự giảm đi rõ rệt tỷ lệ chết vì ung thư khi tiêu thụ lượng trà lớn hơn trên nhóm đàn ông không hút thuốc. Với nhóm đàn ông hút thuốc, càng uống trà nhiều thì càng hút nhiều thuốc, do vậy, lợi ích do khả năng chống ô xy hóa của trà xanh mang lại không phát huy hiệu quả trong việc giải quyết sự phát sinh các gốc tự do từ việc sử dụng thuốc lá. Do vậy, mặc dù uống trên 10 ly trà mỗi ngày, tỷ lệ đàn ông hút thuốc chết do ung thư vẫn cao với 158.3 ± 25.9, và từ 4-9 ly thì tỷ lệ là 114 ± 14.2 và uống dưới 3 ly mỗi ngày là 140.3 ±  22.3. (Còn tiếp)

Tin bài: NCS. Lương Hùng Tiến

Đăng bài: Bùi Đình Lãm

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC
Web các đơn vị
Thông tin tuyển sinh 2019
Đang online 10892
Hôm nay 10160
Hôm qua 22927
Tuần này 10160
Tuần trước 126345
Tháng này 2993695
Tháng trước 3024524
Tất cả 34311797

Lượt truy cập: 34311883

Đang online: 10966

Ngày hôm qua: 22927

online

Chào mừng bạn đến với hệ thống trả lời hỗ trợ trực tuyến.
Để liên hệ với các bộ phận xin vui lòng điền đầy đủ vào mẫu kết nối

Họ và tên


Địa chỉ Email


Yêu cầu hỗ trợ