Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của luận án tiến sĩ - NCS Nguyễn Thị Hải
® 15.01.2010 09:55 | 699 lượt xem ®
Tên luận án: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của giống gà thịt lông màu Sasso nuôi tại miền Bắc Việt Nam”. Chuyên ngành: Chăn nuôi động vật Mã số : 62.62.40.01 Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Hải Đơn vị đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Người hướng dẫn: 1. PGS.TS. Trần Thanh Vân 2. TS. Đoàn Xuân Trúc
Chuyên ngành: Chăn nuôi động vật
Mã số : 62.62.40.01
Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Hải
Đơn vị đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm
Cơ sở đào tạo: Đại học Thái Nguyên
Người hướng dẫn:
Những kết luận mới của luận án
Tỷ lệ trứng phôi của gà ông bà (trống TĐ1 x mái TĐ2) đạt 93,95%, tỷ lệ gà loại 1/ trứng ấp đạt 82,24 %; tương ứng ở gà ông bà (trống TĐ3 x mái TĐ4) là 94,09 % và 82,21 %. Giá thành một gà bố mẹ tự sản xuất ra năm 2006 là 28.500đ, bằng 62% giá nhập từ Pháp năm 2002.
Gà bố mẹ Sasso chọn tạo tại Việt Nam có thể phân biệt trống mái lúc mới nở thông qua màu lông và tốc độ mọc lông cánh; tỷ lệ nuôi sống cao: 95,10 - 96,05 % ở giai đoạn hậu bị, 94,48 – 94,92 % ở giai đoạn sinh sản. Các chỉ tiêu năng suất đạt 96,10 - 98,51 % so với chỉ tiêu của Hãng Sasso - Pháp. Gà mái bố mẹ TĐ34 cho năng suất trứng đến 68 tuần tuổi đạt 197,33 quả/mái; tỷ lệ trứng giống: 94,37 %; tỷ lệ trứng có phôi/ trứng ấp: 94,48 % và gà con loại 1/ tổng trứng ấp: 83,27 %. Tiêu tốn thức ăn/10 trứng giống: 2,89 kg. Gà bố mẹ có ưu thế lai cao về các chỉ tiêu năng suất trứng (14,93 %), tỷ lệ gà loại 1 (2,51 %), tiêu tốn thức ăn/10 trứng (-12,42 %).
Gà thương phẩm Sasso sản xuất từ gà bố mẹ chọn tạo ở Việt Nam nuôi theo hai phương thức: nhốt và bán nuôi nhốt; hai mùa vụ: Xuân - Hè và Thu - Đông đều cho tỷ lệ nuôi sống cao đạt 95 - 98 %, ưu thế lai so với trung bình bố mẹ là 2,15 - 3,70 %. Đến 10 tuần tuổi bình quân trống mái đạt 2362,44 g/con ở lô bán nuôi nhốt và 2559,69 g/con ở lô nuôi nhốt, ưu thế lai so với trung bình bố mẹ là 2,76 - 9,51 %. Tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng 2,30 - 2,55 kg, ưu thế lai so với trung bình bố mẹ là -3,95 đến - 8,06 %.
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Hải
Tên luận án: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của giống gà thịt lông màu Sasso nuôi tại miền Bắc Việt Nam”.
Thuộc chuyên ngành: Chăn nuôi động vật
Mã số chuyên ngành: 62. 62. 40. 01
Đơn vị đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm
Cơ sở đào tạo: Đại học Thái Nguyên
* Mục đích nghiên cứu của luận án
Đánh giá khả năng sản xuất của gà Sasso ông bà, bố mẹ và con thương phẩm chọn tạo tại Việt Nam, làm cơ sở xây dựng các tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật cho bộ giống gà này.
Chủ động sản xuất gà bố mẹ Sasso, cung ứng gà giống thương phẩm với giá thành hạ cho nhu cầu thị trường ngày càng tăng.
* Đối tượng nghiên cứu
Gà ông bà, bố mẹ Sasso có nguồn gốc từ gà Sasso được chọn tạo tại Việt Nam gồm bốn dòng thuần TĐ1, TĐ2, TĐ3 và TĐ4 do Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam chọn tạo thành công trên đàn ông bà Sasso nhập tại Pháp năm 2002.
Gà thương phẩm Sasso từ đàn bố mẹ Sasso chọn tạo tại Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu
Đàn gà thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, bảo đảm đồng đều về độ tuổi, chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, quy trình thú y phòng bệnh, chế độ chiếu sáng.
Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh theo hướng dẫn Hãng Sasso và Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam.
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học, phần mềm SAS và Microsoft Excel.
* Các kết quả chính và kết luận
1.1. Gà ông bà Sasso chọn tạo tại Việt Nam đều giữ được các đặc điểm ngoại hình đặc trưng nguyên gốc và ổn định. Ở tuổi trưởng thành dòng TĐ1, TĐ3 có lông nâu đỏ, dòng TĐ2 có lông nâu nhạt, dòng TĐ4 lông màu trắng tuyền; tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị 93,75 - 95,45 %, giai đoạn sinh sản 94,48 - 94,92 %.
Năng suất trứng của dòng bà nội TĐ2 đạt 160,57 quả/mái, dòng bà ngoại TĐ4 đạt 193,37 quả/mái. Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng giống tương ứng là 3,34 kg và 2,84 kg. Trứng gà ông bà (trống TĐ1 x mái TĐ2) tỷ lệ có phôi đạt 93,95%, tỷ lệ gà con loại I /trứng ấp đạt 82,24 %; tương ứng ở gà ông bà (trống TĐ3 x mái TĐ4) là 94,09 % và 82,21 %. Giá thành một gà bố mẹ sản xuất ra ở nước ta năm 2006 là 28.500 đ, chỉ bằng 62 % giá nhập từ Pháp (năm 2002).
1.2. Gà bố mẹ Sasso chọn tạo tại Việt Nam, riêng gà TĐ34 có thể phân biệt trống mái lúc mới nở bằng sự phân ly màu lông, gà có lông màu nâu và nâu sọc dưa là gà mái, gà có lông màu trắng và xám nhạt là gà trống; cả TĐ12 và TĐ34 đều có tỷ lệ nuôi sống cao: 95,10 - 96,05 % ở giai đoạn hậu bị, 94,48 - 94,92 % ở giai đoạn sinh sản.
Các chỉ tiêu năng suất của gà bố mẹ Sasso đạt 96,10 - 98,51 % so với chỉ tiêu của Hãng Sasso - Pháp. Gà mái bố mẹ TĐ34 cho năng suất trứng đến 68 tuần tuổi đạt 197,33 quả/mái; tỷ lệ trứng giống 94,37 %; tỷ lệ trứng có phôi /trứng ấp 94,48 % và gà con loại I /tổng trứng ấp 83,27 %. Tiêu tốn thức ăn /10 trứng giống là 2,89 kg. Gà bố mẹ có ưu thế lai cao về các chỉ tiêu năng suất trứng (6,47 %), tỷ lệ gà loại I (2,56 %), tiêu tốn thức ăn /10 trứng (- 4,11 %).
1.3.Gà thương phẩm Sasso nuôi nhốt và bán nuôi nhốt; trong cả hai vụ Xuân - Hè và Thu - Đông đều cho tỷ lệ nuôi sống cao, đạt 95 - 98 %, ưu thế lai so về chỉ tiêu này là 2,15 - 3,70 %.
Khối lượng gà đến 10 tuần tuổi trung bình trống mái đạt 2362,44 g/con ở lô bán nuôi nhốt và 2559,69 g/con ở lô nuôi nhốt, ưu thế lai là 2,76 - 9,51 %.
Tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng là 2,30 - 2,55 kg, ưu thế lai so với trung bình bố mẹ là 3,95 - 8,06 %; Chỉ số sản xuất đạt cao ở 7 - 10 tuần tuổi từ 131,94 - 177,49.
Tỷ lệ thân thịt dao động từ 76,47 - 79,83 %, tỷ lệ protein cơ ngực: 22,85 - 24,98 %, tỷ lệ proein cơ đùi 20,01 - 21,13 %. Hàm lượng các axit amin trong thịt gà Sasso khá cao, như glutamic chiếm từ 12,562 - 13,58 %, lysine từ 6,978 - 8,012 %
Gà thương phẩm Sasso nuôi trong nông hộ theo phương thức nuôi nhốt và bán nuôi nhốt, trong cả 2 mùa vụ đã cho tỷ lệ nuôi sống, tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng, năng suất và chất lượng thịt đạt xấp xỉ như nuôi thí nghiệm. Trần Tố
|