Trung tâm NC cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc VN
caobangphiadenphiaden
WEBSITE CÁC ĐƠN VỊ
Trang chủ Lĩnh vực nghiên cứu Cây hoa
03/06/2017 09:25 - Xem: 301

Kỹ thuật chăm sóc hoa địa lan


1. THÔNG TIN CHUNG
- Xuất xứ của quy trình: Kết quả của đề tài cấp tỉnh Lạng Sơn: “Xây dựng mô hình
sản xuất và nhân giống một số loài hoa giá trị cao tại Lạng Sơn”
- Thời gian thực hiện: 2004 - 2006
- Tác giả/nhóm tác giả:
+ Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đào Thanh Vân
+ Tham gia: TS. Đặng Thị Tố Nga
- Đơn vị công tác: Trung tâm nghiên cứu cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc Việt
Nam – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Địa chỉ: Email: daothanhvan@tuaf.edu.vn ; Điện thoại: 0912039940


2. MỤC TIÊU CỦA QUY TRÌNH
Xây dựng kỹ thuật chăm sóc hoa địa lan nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả sản xuất hoa địa lan.


3. MÔ TẢ CHI TIẾT QUY TRÌNH THỰC HIỆN
3.1 Chọn cây giống
Chọn cây giống khỏe mạnh, sạch sâu bệnh và được nhân giống bằng phương pháp
nuôi cấy mô tế bào. Cây giống thường trồng trong các túi bầu, có 1 – 3 nhánh và có tuổi
cây khoảng 6 – 12 tháng.
3.2 Chăm sóc thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
- Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây hoa lan hàng năm từ đầu tháng 3 dến giữa
tháng 10.
- Nhiệt độ và ánh sáng: nuôi trồng lan ở nhiệt độ là 15 – 28 oC, ánh sáng tán xạ, nếu
cường độ chiếu sáng cao phải giảm ánh nắng trực xạ bằng che lưới đen.
- Cây lan thường được trồng trong các chậu nhựa đen, tuỳ tuổi của lan mà chọn kích
thước chậu cho phù hợp
- Nếu cây lan đã to, chậu nhỏ thì cần phải thay chậu cho lan, sử dụng vỏ thông đã
được rút nhựa (có loại chuyên dùng của Trung Quốc), có thể tự tạo vỏ thông đã rút nhựa
bằng cách đun cách thuỷ trong thời gian 6 giờ, hơi nước nóng sẽ làm nhựa thông tách ra
khỏi vỏ thông.
- Thay giá thể: Dùng tay nhấc khóm lan ra khỏi chậu cũ, loại bỏ các lá già, rễ đã mục
nát, sau đó tiến hành đóng lại bầu, trồng lại lan: Đưa giá thể vào chậu và sau đó đưa cây
lan vào, tiếp đến cho đầy giá thể đến miệng chậu. Che phủ trên của bề mặt chậu 1 lớp giá
thể rêu la được.
- Chăm sóc lan: hàng tuần bổ sung dinh dưỡng bằng cách tưới dung dịch phân NPK
loại 20:20:20, tưới nước phân vào giá thể cho đủ ngấm (nước phân chẩy qua giá thế xuống
đáy chậu, qua lỗ hổng thành giọt là đủ dinh dưỡng và độ ẩm), pha phân với nồng độ
1/1200 – 1500 lần, tưới 3 - 4 ngày/1 lần
.
3.3 Xử lý ra mầm hoa
- Chọn những chậu lan có nhánh có từ 8 lá trở lên, khoẻ mạnh không sâu bệnh
(Nhánh này đã được để từ tháng 9 năm trước)
- Đem chậu lan ra phơi nắng, tuỳ thuộc vào từng giống mà tiến hành phơi nắng
khác nhau. Cách phơi nắng đó là: Để chậu lan ra ánh nắng có cường độ chiếu sáng tăng
dần để lan thích nghi dần với việc phơi nắng, khoảng 3 –5 giờ cho ngày đầu tiên, 5 - 7 giờ
cho ngày thứ hai, 8 - 10 giờ cho ngày thứ 3, sau đó có thể phơi nắng không cần che lưới.
Chú ý: - Giống địa lan lá to: Sau 4 ngày có khả năng phơi nắng hoàn toàn
- Giống địa lan lá nhỏ: Khi phơi nắng nhưng vẫn dùng một lớp lưới đen che cách
mặt giàn là 3 m.
- Thời gian phơi nắng: từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 6 nhằm tập trung quang hợp,
tăng nhiệt độ và để phân hoá mầm hoa
- Bón phân: có thể dùng phân hạt dạng viên tỷ lệ 14:14:14 hoặc 14:13:13. Phân này
có tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho lan trong quá trình sinh trưởng của cây, hạt phân có
thể dùng trong khoảng 180 ngày. Lượng dùng là 8 – 9 g/chậu (lan 3 tuổi).
- Có thể sử dụng phân NPK 20:20:20 với nồng độ 1/1200 - 1500, tưới 3 - 4
ngày/lần.
+ Khi cần cây ra mầm hoa dùng phân có hàm lượng đạm thấp, hàm lượng lân cao để
thúc cây ra mầm hoa; tỷ lệ N:P:K là 10:30:20, nồng độ 1/1000 tưới 10 ngày/lần. Trong
thời kỳ này cứ tưới 3 lần phân tỷ lệ 10:30:20 thì lại tưới một lần phân 20:20:20. Nếu thời
tiết ẩm nhiều, bộ rễ yếu thì có thể phun phân qua lá
+ Thời gian từ khi xử lý ra mầm hoa đến có hoa nở là 8 tháng
+ Khi ngồng hoa đã ra được khoảng 10 cm thì dùng phân N:P:K là 30:10:10 với nồng
độ: 1/2000, 5 - 7 ngày tưới 1 lần. Để lan trên giàn và phía trên có che lưới đen giảm ánh
sáng
+ Tưới nước: Nếu thời tiết khô hanh, giá thể khô thì tưới nước vào khoảng sáng sớm
(7 – 9 h) hoặc chiều tối (16 - 17h)
3.4 Bẻ mầm và để mầm
+ Bẻ mầm nhằm điều chỉnh sinh trưởng của cây, thường tiến hành từ cuối tháng 4
đến giữa tháng 8, có tác dụng tập trung dinh dưỡng cho phân hoá mầm hoa để cây ra hoa
vào dịp tết Nguyên Đán
+ Để mầm từ cuối tháng 8 đến tháng 10, tốt nhất là để mầm vào tháng 9, mầm này sẽ
là nhánh cho hoa vào năm sau. Mỗi chậu lan chỉ để 2 - 3 giả hành to cho ra hoa năm sau.
+ Tiến hành để mầm và để ngồng hoa trong cùng thời gian trên một chậu.
3.5 Phòng trừ sâu bệnh
Mặc dù địa lan là loại cây hoa lan to khỏe mạnh, nhưng nếu chăm sóc không thỏa
đáng cũng dễ bị sâu bệnh phá hoại, từ đó sẽ làm giảm giá trị thẩm mỹ, thậm chí cây bị
chết.. Nguyên tắc phòng trừ sâu bệnh cho địa lan là:
– Trừ tận gốc nguồn sâu bệnh cho địa lan
– Cải thiện điều kiện môi trường trồng địa lan
– Lấy phòng làm chính, kết hợp giữa phòng và trị
3.5.1 Bệnh thán thư
- Đặc điểm gây hại: Các bộ phận của địa lan như thân lá, vỏ thân già, đài hoa cánh
hoa thường bị bệnh thán thư, thường thấy ở những cây chăm sóc kém. Những cây tổn
thương do rét, ngộ độc thuốc, cháy nắng và những cây sinh trưởng kém do bón quá nhiều
đạm, giá thể quá chua hoặc trồng quá dày, rễ thiếu không khí làm cho bộ rễ phát triển kém
đều dễ măc bệnh. Khi vi khuẩn xâm nhập vào lá, vỏ thân già, đầu tiên xuất hiện đốm đen
dài trên nền màu xám hoặc xanh vàng và hình thành các bào tử trên đó. Giữa bộ phận chưa
bị nhiễm bệnh và bộ phận đã nhiễm bệnh có ranh giới rõ rệt, ở giai đoạn sau vêt bệnh
loang dần rồi liền với nhau tạo thành vết lõm hoặc từ màu đen.
- Biện pháp phòng trừ: Tăng cường chăm sóc, tạo cho cây đủ ánh sáng, thông thoáng,
tránh bị tổn thương là cách phòng trừ sâu bệnh thán thư tốt nhất. Mùa mưa nên phun ít
nước, bón thêm phân hữu cơ nhằm nâng cao khả năng chống bệnh, không được bón quá
nhiêu đạm. Khi bị bệnh nhất thiết không được tưới nước, lập tức cắt bỏ vết bệnh và đem
tiêu huỷ.
3.5.2 Bệnh thối rữa
- Đặc điểm gây hại: Đây là loại bệnh hại do trực khuẩn gây ra với sự xâm nhiễm của
men ác tính và men thối rữa trong đơn bào thực vật gây nên. Do đó tùy thuộc vào vị trí
sinh bệnh và triệu chứng của bệnh mà còn có thể phân chia thành các bệnh như bệnh thối
đen, thối tâm, thối gốc, bệnh đổ rạp. Sự xâm nhập của men ác tính dễ làm cho rễ bị thối,
làm đổ cây. Khi bệnh nặng bắt đầu từ lá non sát gốc, lúc đầu lá mất màu xanh hoặc đốm
tròn như giọt nước, sau đó loang dần thành các vết thối rữa, màu nâu nhạt, rồi nâu đen, cho
đến khi toàn cây bị chết khô. Ở các vùng có khí hậu ấm áp, quanh năm đều có thể phát
sinh bệnh nhưng cây bị hại nặng nhất vẫn là mùa Xuân do có mưa phùn ít nắng, môi
trường không thông thoáng. Cây địa lan sau khi phát bệnh nếu như không xử lý kịp thời sẽ
lan đến thân giả và bộ rễ là loại bệnh hủy hoại hoàn toàn. Bệnh này có thể bị lây lan qua
mưa, cũng có thể lây qua cồn trùng khi di chuyển.
- Biện pháp phòng trừ: tránh tưới quá nhiều nước và đề vườn lan đủ ánh sáng, thông
thoáng. Khi mới phát bệnh, nên dùng dao đã khử trùng cắt bỏ phần bị bệnh và dùng loại
thuốc có chứa 70% Mn và Zn pha loãng 1/600-1/1.000.
3.5.3 Bệnh vi khuẩn thối nhũn
- Đặc điểm gây hại: Bệnh vi khuẩn thối nhũn còn gọi là bệnh đốm nâu, là loại bệnh
do vi khuẩn gây hại. Bệnh vi khuẩn thối nhũn hại lá, mầm và thân già, lá. Sau khi bị nhiễm
bệnh giai đoạn đầu xuất hiện các vệt như nước đọng, sau biến thành màu nâu hoặc màu
đen và lan ra rất nhanh, thành những mảng thối nhũn chảy nước, bệnh lan truyền theo
nước tưới hoặc nước mưa. Nếu như thân già bị nhiễm bệnh cũng xuất hiện các hạt nước
đọng, sau đó xuất hiện các vết bệnh màu nâu hoặc màu đen, cuối cùng mềm nhũn, thối rất
nhanh. Mầm non thường bị nhiễm bệnh vào đầu mùa hè, bệnh xâm nhập vào qua các vết
đứt gẫy, sâu cắn, khi gặp mưa nhiều, môi trường không thông thoáng bệnh sẽ rất nặng và
lan ra rất nhanh chỉ cần 3 - 5 ngày toàn bộ lá bị thối nhũn kể cả lá non cũng như lá già. Bất
cứ mùa nào trong năm cũng có thể phát bệnh nhưng mùa Đông giảm hơn một chút, ở
những bộ phận nhiễm bệnh đã bị phân giải chỉ cần va nhẹ đã có dịch chảy ra đồng thời có
mùi tanh của cá, khi nhỏ vài giọt dịch đó vào chén nước thấy ngay nước đục tỏa ra xung
quanh.
- Biện pháp phòng trừ: cần chú ý môi trường khi thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ.
Các loại thuốc thường ít tác dụng với loại bệnh này, cho nên tốt nhất là loại bỏ cây bị
bệnh.
3.5.4 Bệnh thối rễ
- Đặc điểm gây hại: Bệnh thối rễ còn gọi là bệnh khô héo, do khuẩn thể gây nên,
ngoài địa lan còn làm hại các loại cây khác. Rễ cây bị thối do một loại khuẩn hình sợi. Đây
là loại vi khuẩn hại rất nặng đối với địa lan. Bệnh gây hại trên tất cả các giai đoạn của địa
lan nhưng hại nặng nhất là ở cây mới trồng, tưới nước quá nhiều. Bệnh thường xuất hiện
sớm nếu như không bị khống chế kịp thời có thể lan đến thân giả rồi đến lá. Trong quá
trình phát triển, hình thành vết thối rữa màu nâu vòng quanh gốc cây, làm cho cây bị chết.
Cây to bị nhiễm bệnh sẽ suy yếu dần, đầu tiên chỉ làm cho rễ bị thối rữa sau đó làm cho
cây bị chết. Cũng có trường họp lại lan đến thân giả làm cho sinh trưởng của cây bị suy
thoái, thân giả và lá đều bị vàng, yếu ớt, cong queo khô héo rồi bị chết.
- Biện pháp phòng trừ: chú ý đến điều kiện thông thoáng giảm số lần tưới nước.
Trong mùa Hè nhiệt độ cao, mưa nhiều, hàng ngày cần phải chú ý quan sát phát hiện kịp
thời và sừ dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp. Khi phát hiện cây mới bị bệnh nhẹ phải
dùng thuốc trừ khuẩn để phun, cũng có thể ngâm rễ lan bằng thuốc tím hoặc tưới vào gốc
từ 2 – 3 lần, cách 1 tuần 1 lần cho hiệu quả khá tốt. Đồng thời nên thay chậu và giá thể khi
thay chậu phải cắt bỏ rễ bị thối, sau khi thay chậu hạn chế tưới nước nhằm giảm khả năng
bệnh tái phát. Khi cây bị bệnh nặng phải lập tức loại để bỏ tránh lây lan.
3.5.5 Bệnh khô lá
- Đặc điểm gây hại: Bệnh khô lá là loại bệnh do khuẩn hình gậy tròn gây hại hay phát
sinh ở đuôi lá hoặc phía trước của phiến lá hoa địa lan. Ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ
lớn rất nhanh, lúc đầu là các đốm màu nâu đen dạng giọt nước đọng rồi chuyển sang mầu
nâu đen, giữa có màu xám nhạt, các vết bệnh to có đốm đen nhỏ, khi nặng sẽ lan ra cả
phiến lá làm cho lá bị chết khô. Mùa xuân có mưa phùn trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm
cao, thông thoáng kém, ánh sáng thiếu thì bệnh càng nặng.
- Biện pháp phòng trừ: cần cắt bỏ ngay những lá khô đem tiêu hủy tập trung, đồng
thời có thể phun thay đổi các loại thuốc trừ khuẩn.
3.5.6 Bệnh đốm tròn
- Đặc điểm gây hại: Bệnh đốm tròn là loại bệnh hại khá nghiêm trọng do 1 loại vi
khuẩn gây nên. Nó qua Đông bằng các nội khuẩn hoặc bào tử. Bệnh phát sinh nhiều ở bộ
phận giữa và dưới của lá, thường gây hại trên các cây sinh trưởng yếu, đặc biệt các vườn
lan trong điều kiện thiếu ánh sáng kéo dài, ít thông thoáng thì bệnh càng phát triển mạnh
hơn. Cây địa lan sau khi bị nhiễm bệnh ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu đỏ, sau
lan dần thành các đốm tròn hoặc giữa hình tròn (ở mép lá) rồi thành đốm màu nâu đen, giai
đoạn cuối giữa phần lớn chuyển thành mầu nâu nhạt, vết bệnh khá lớn, mép lá vàng thể
hiện rõ ờ 2 mặt lá, khi nặng vết bệnh phủ kín lá và làm cho lá bị chêt khô.
- Biện pháp phòng trừ: cắt bỏ lá bệnh đem tiêu huỷ tập trung; dùng các loại thuốc trừ
khuẩn như: Boocđo, Benlat để phun liên tục 3 – 4 lần cách 10 - 15 ngày phun 1 lần vào
mùa Xuân và mùa Thu.
3.5.7 Bệnh muội đen
- Đặc điểm gây hại: Bệnh này xuất hiện khi vườn lan bị thiếu ánh sáng, thông thoáng
kém, một số loại sâu như rệp, khi bám vào cây lan chúng tiết ra loại dịch, tạo điều kiện cho
vi khuẩn cộng sinh hình thành bệnh, loại khuẩn này ít gây hại cho cây lan nhưng khi trên
lá bị phủ bề lớp muội đen sẽ ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của toàn cây, làm cho cây
sinh trưởng kém, giá trị thẩm mỹ bị giảm.
- Biện pháp phòng trừ: tạo môi trường thông thoáng cho cây, tiêu diệt các loại sâu
hại và định kỳ lau lá bệnh bằng khăn mặt ướt nhằm loại bỏ vi khuẩn bám ở đó.
3.5.8 Tuyến trùng
- Đặc điểm gây hại: Bệnh tuyến trùng địa lan là một trong những loại bệnh thường
gặp do tuyến trùng gây ra. Tuyến trùng là loại động vật nhiều tế bào ký sinh chỗ giàu dinh
dưỡng, rất nhỏ kích thước 1 mm thuộc dạng bán trong suốt, chỉ quan sát được tuyến trùng
bằng kính hiển vi. Thông thường con cái hình quả bí, con đực dạng sợi, ưa ẩm gây hại cho
địa lan vào mùa mưa khi nhiệt độ cao. Nguồn tuyến trùng gây bệnh đối với địa lan vẫn là
tuyến trùng lưỡi kiềm, nó ký sinh trên lá làm cho lá vàng hoặc đốm nâu làm cho lá bị khô
héo thậm trí bị rụng, do đó làm cho cây sinh trưởng chậm, phát triển không tốt, ký sinh ở
mầm hoa có thể làm cho mầm hoa bị khô héo không hình thành nụ, còn ký sinh ở rễ làm
cho rễ xuất hiện những chuỗi hạt liên kết hoặc nốt sần nhỏ trong nốt sần có những hạt tròn,
hoặc làm cho rễ bị tổn thương xung quanh vết thương xuất hiện rễ tơ ngắn nhỏ khiến cho
bộ phận trên mặt đất sinh trưởng kém, lá nhỏ, ít lá, màu vàng, khi bị bệnh nặng có thể làm
chết cả cây.
- Biện pháp phòng trừ: loại trừ nguồn bệnh, nhổ bỏ và tiêu hủy những cây bị nặng,
những cây nhẹ cắt bỏ phần lá, rễ bị bệnh, phân còn lại ngâm vào nước nóng ở 50 °C trong
thời gian 10 phút hoặc 55 °C trong thời gian 5 phút. Làm sạch giá thể bằng thuốc sát trùng.
Nếu như cần chuyển cây bệnh ở nơi khác về thì giá thể phải được xử lý trước đó 2 tuần
bằng các loại thuốc khử trùng.
3.5.9 Bọ trĩ
- Đặc điểm gây hại: Bọ trĩ di chuyển rất nhanh, khi trời nắng chúng chui nấp trong bẹ
lá hoặc trong các lớp lá non ở ngọn. Sau khi bị hại, các chồi non, lá non, nụ hoa không
phát triển, cánh hoa bị quăn lại. Bọ trĩ gây thiệt hại cho địa lan lúc đang ra hoa, chúng
thường phát triển trong mùa khô. Bọ trĩ rất nhỏ, có 2 loài:
+ Loài màu vàng nhạt: Thân dài 1mm, mang 4 cánh dài, hẹp. Chích hút lá non tạo
đốm vuông, vết bệnh chuyển từ màu vàng trắng sang nâu đen.
+ Loài màu đen: Thân dài 1-2mm, trên lưng có đốm vàng, cánh rất ngắn, gây hại trên
hoa, tạo những đốm tròn trong như giọt dầu, ở giữa có một chấm vàng.
- Biện pháp phòng trừ: Khi thấy có triệu chứng hại trên lá non, cần phun thuốc
phòng trừ, có thể phun 2-3 tuần 1 lần.Biện pháp hóa học: Hiện nay trong danh mục thuốc
bảo vệ thực vật chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bọ trĩ hại hoa địa lan. Có thể tham khảo
sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Emamectin benzoate, Spinetoram, Imidacloprid +
Pyridaben
3.5.10 Rệp
- Đặc điểm gây hại: Rệp thường gặp ở địa lan, có rất nhiều loại khác nhau và thường
phát sinh khi nhiệt độ, ẩm độ cao, không khí ít lưu thông. Rệp thường kết thành từng
mảng, mặt ngoài của con đực được phủ bởi một lớp sáp trắng tựa bông, trú ngụ ở thân giả,
rễ và lá, mặt dưới của lá nhiều hơn mặt trên, rồi sau đó rệp có thể lan dần khắp các bộ phận
của cây. Lá có rệp bám biến thành màu vàng, giữa đốm vàng có khi thành mầu nâu, lá lõm
xuống. Thức ăn của nó là nhựa cây, rệp trưởng thành được phủ bằng chất dịch tiết ra có
màu trắng hoặc màu khác, nó cố định tại 1 chỗ và hút nhựa cây làm thức ăn. Bị nhẹ làm
ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, khi bị nặng phủ đầy trên mặt lá. Đồng thời, rệp còn có
khả năng tiết ra mật ngọt, thu hút sự tập trung của kiến cho nên khi cây có rệp có kiến
cộng sinh và phát sinh bệnh muội tạo thành lớp thực khuẩn tựa như muội xám, vừa tiêu
hao dinh dưỡng, vừa ảnh hưởng đến quang hợp làm cho cây sinh trưởng kém, thậm chí lá
bị khô, rụng lá rồi chết. Rệp thường phát sinh ở những nơi quá ẩm không thông thoáng cho
nên hàng ngày phải chú ý tạo cho cây thông thoáng, tránh quá ẩm ướt.
- Biện pháp phòng trừ: Có thể diệt rệp bằng thủ công (lau, vuốt), cũng có thể phun
thuốc trừ rệp. Đối với loại địa lan có giá trị cao nên dùng các biện pháp phòng chống sự
phát sinh của rệp.
3.5.11 Nhện đỏ
- Đặc điểm gây hại: Nhện đỏ rất nhỏ, khó thấy bằng mắt thường. Nhện non có màu
vàng cam, trưởng thành con cái mình tròn màu đỏ tươi ở phần bụng và đỏ sẫm ở phần
hông. Ở hai bên lưng nhện đỏ có nhiều đốm đen chạy dài từ ngực xuống cuối bụng. Nhện
đỏ có 4 cặp chân dài màu vàng nhạt, chiều dài của nhện cái là 0, 2mm. Con đực nhỏ hơn,
mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi, hai đốt cuối màu đỏ chói. Nhện đỏ sống giữa bẹ lá,
thân và cả mặt dưới lá. Nhện đỏ phá hại lan bằng cách bám ở dưới lá và chích hút diệp lục
tố của lá, tạo ra những chấm nâu nhỏ dưới mặt lá làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
phát triển của lá, làm cho nụ và hoa bị hư hỏng, kém chất lượng. Nhện đỏ phát triển trong
điều kiện khô và nóng. Vòng đời của nhện đỏ khoảng 15 ngày và mỗi con có thể đẻ đến
hàng trăm trứng.
- Biện pháp phòng trừ: Do chúng thích hợp ở điều kiện khô nên cần giữ độ ẩm
thường xuyên trong vườn lan thích hợp, hạn chế sự phát triển của nhện. Có thể tham khảo
sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Abamectin; Milbemectin; Emamectin benzoate;
Fenpyroximate; Hexythiazox; Propargite.
3.5.12 Rệp sáp
- Đặc điểm gây hại: Thân nhỏ trên thân phủ đầy phấn, có cánh nhưng không bay.
Thường làm hại lá mầm non và đài hoa của địa lan, nó dùng vòi để chích hút lấy nhựa làm
cho lá bị vàng khô và nguyên nhân của bệnh thối rữa thân dẫn đến cây bị chết. Rệp sáp là
loại động vật nhỏ, đa số có hình tròn, trứng mầu trắng sữa mỗi ngày đẻ 1 – 2 trứng, sau 50
ngày trứng nở, sau 1 tuần trở thành rệp trưởng thành, là loại ký sinh sống bàng hút nhựa
cây. Nó dùng vòi sắc chọc sâu vào tế bào lá hút lấy chất dinh dưỡng, phần dư thừa kết dính
lại với nhau làm cho tế bào chết khô. Khi bị nặng tế bào biểu bì sẽ chết, làm cho cây mất
cân bằng về nước bốc hơi mạnh, quang hợp giảm thậm chí còn tiết ra chất độc hoặc chất
ức chế sinh trưởng xâm nhập vào cây, phá vỡ sự trao đổi chất, ảnh hưởng sinh trưởng phát
triển của cây. Loại rệp này còn làm hại cả thân giả làm cho gốc bị thối rữa, lá bị vàng, thực
khuẩn, vi khuẩn có thể lây lan qua các phần bị tổn thương.
- Biện pháp phòng trừ: Khi sâu nở bằng cách dùng các loại thuốc trừ sâu phun liên
tục 2 – 3 lần, cách 5 – 7 ngày phun 1 lần. Cũng có thể dùng lưu huỳnh vôi tự pha chế để
phun.
3.6 Thu hái và bảo quản hoa địa lan
Hoa Địa lan vừa có thể trồng chậu vừa có thể cắt cành, có rất nhiều loại địa lan thích
hợp cho trang trí được thị trường cây cảnh quốc tế ưa chuộng. Hoa cắt cành Địa lan có có
đặc thù riêng nên cần phải có kỹ thuật cắt tương ứng mới có thể đem lại hiệu quả cao.
3.6.1 Thời điểm cắt hoa
Nên cắt hoa vào lúc gần một nửa số hoa đã nở, nếu cắt quá sớm nụ hoa khó nở, bông
hoa cũng sớm bị héo, cắt quá muộn độ bền của hoa sẽ ngắn, giảm giá trị tiêu thụ trên thị
trường. Cắt hoa địa lan tốt nhất là vào lúc 2/3 số hoa trên cành đã nở và có thể giữ được 30
– 45 ngày trong lọ.
3.6.2 Phân loại đóng gói
Hoa địa lan sau khi cắt phải lập tức cắm vào nước để bảo quản và phân loại theo yêu
cầu để đóng gói. Loại trừ những hoa lan bị sâu bệnh, lấy những hoa lan chất lượng tốt đưa
vào bảo quản, Đóng gói được tiến hành trước khi vận chuyển, khi đóng gói cành hoa được
cắm vào bình đủ nước và cố định trong thùng đựng, Dùng giấy để bảo vệ bông hoa, xung
quanh chèn bằng giấy vụn tránh va chạm làm hỏng hoa. Khi đã vận chuyển đến nơi, dùng
kéo cắt hoa cắt bớt khoảng 0,5 - 1 cm cành hoa rồi cắm vào bình để bảo quản và vận
chuyển
Hoa địa lan thường được cắt vào lúc một nửa hoa đã nở nên phương pháp xử lý trước
khi bảo quản được coi trọng. Dung dịch xử lý trước khi bảo quản thường là STS (sunfat
bạc) với nồng độ 0,25 mml, thời gian xử lý 1 – 2 tiếng.
4. ĐỊA CHỈ VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG
Các vườn trồng hoa địa lan khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC
Web các đơn vị
Đang online 7463
Hôm nay 18004
Hôm qua 20750
Tuần này 107414
Tuần trước 119713
Tháng này 1920531
Tháng trước 2010103
Tất cả 22527493

Lượt truy cập: 22527493

Đang online: 7463

Ngày hôm qua: 20750

online

Chào mừng bạn đến với hệ thống trả lời hỗ trợ trực tuyến.
Để liên hệ với các bộ phận xin vui lòng điền đầy đủ vào mẫu kết nối

Họ và tên


Địa chỉ Email


Yêu cầu hỗ trợ