Khoa Nông học
Tuyển sinh 2017 - Khoa Nông học
WEBSITE CÁC ĐƠN VỊ
Trang chủ Thư viện Quy trình kỹ thuật trồng trọt
05/05/2013 09:40 - Xem: 31765

Quy trình Kỹ thuật trồng, thâm canh chè an toàn

Tác giả: TS. Hoàng Văn Chung, Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

 

1.Điều kiện sinh thái.

1.1.Khí hậu:

- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 18 - 23oc.

- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm: >80%

- Lượng mưa hàng năm trên 1200 mm.

1.2. Đất đai:

 - Đất có tầng dày canh tác 50 cm trở lên, kết cấu tơi xốp.

- Mạch nước ngầm ở sâu dưới mặt đất từ 100 cm trở lên.

- Độ PHKCL từ 4,0 – 6,0, tỷ lệ mùn tổng số 2,0% trở lên.

- Độ dốc bình quân đồi không quá 25 o .

2. Thiết kế đồi nương.

2.1. Thiết kế đồi, hàng chè.

- Thiết kế từng đồi phải nằm trong  thiết kế tổng thể chung toàn vùng.

- Thiết kế đồng bộ ngay từ đầu hệ thống đường, các công trình phụ trợ cây phân xanh, che bóng, chắn gió. Những nơi thuận lợi cần làm đập, hồ chứa nước chân đồi, bể chứa nước  hệ thống tưới nước, hố ủ phân trên đồi.

- Thiết kế hàng: Nơi đồi có độ dốc bình quân 6 o trở xuống ( cục bộ có thể tới 8o0): Thiết kế hàng chè thẳng theo hàng dài nhất, song song với đường bình độ chính, hàng cụt xếp ở bìa lô.

2.2. Thiết kế đường :

Loại đường

Vị trí

Bề rộng

Mặt

đường

(m)

Độ dốc

mặt đường

(độ)

Độ nghiêng

vào trong

đồi(độ)

Các yêu cầu khác

 

 

 

 

 

 

1- đường

trục chính

Xuyên giữa khu chè

5 – 6

5

-

Hai mép trồng cây. Có hệ thống rãnh thoát nước 2 bên.

2- Đường

liên đồi

Nối đường trục với các đồi hoặc các đồi với nhau

4 – 5

6

6

Mép ngoài trồng cây.

 

3- Đường

lên đồi

Nối đường liên đồi với đỉnh vàđường vành đồi

3 – 4

8  - 10

5

Có rãnh thoát nước phía trong. Có vòng quay xe ở ngã ba.

Mép ngoài trồng cây thưa.

4- Đường

vành  đồi

Đường vành chân đồi và cách 30 – 50 m theo sườn đồi có một đường.

3 – 4

1 – 2

6 - 7

Mép ngoài trồng cây thưa.

5- Đường lô

Cắt ngang (đồi phẳng) hay cắt chéo

hàng chè (đồi dốc), cách nhau 150 - 200 m.

3 -  4

10 - 12

-

Sửa theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước.

6- Đường

chăm sóc

Trong lô chè , cách nhau 57-70 m, cắt ngang hay chéo hàng chè .

1,2 – 1,3

10 - 12

-

Sửa theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước.

2.3.Thiết kế hạng mục phụ trợ:

            - Cứ 5 – 10 ha có một lán trú mưa, nắng. Cứ 3 – 5 ha có một bể chìm chứa 3 - 5m3 nước dùng cho phun thuốc, bình quân 1m3 nước/ ha dùng cho phun thuốc. Cứ 2- 3 ha có một hố ủ phân hữu cơ tại chỗ, dung tích chứa 8 – 10m3/đợt ủ.

3. Kỹ thuật gieo trồng:

3.1. Làm đất:

            Việc làm đất trồng chè phải đạt yêu cầu sâu sạch ải , vùi lớp đất mặt có nhiều hạt cỏ xuống dưới, san ủi những điểm dốc cục bộ.

a) Làm đất theo cách cày sâu toàn bộ  bề mặt sâu 30 – 35 cm, bừa san. Trường hợp không cày toàn bộ bề mặt cũng phải đào rãnh trồng. Đào rãnh hàng trồng chè sâu  40 – 45 cm, rộng 50 – 60 cm. lấp đất mặt xuống dưới , lấp đất cái lên trên cách mặt đất 5 – 10 cm.

b) thời vụ làm đất: Làm đất vào thời gian ít mưa (dưới 150mm/tháng) tránh xói mòn.

- Tháng 9 - 11 đối với loại đất mới, nhiều mùn, khai hoang xong trồng ngay.

- Tháng 11 - 3 đối với đất phục hoang, đất xấu, trồng một vụ cây phân xanh cải tạo đất.

3.2.Giống chè:

3.2.1. Trồng các giống chè đã được khảo nghiệm thích hợp vùng:

- Vùng thấp (độ cao dưới 100m): Nhõn trồng cỏc giống chố chọn tạo trong nước như giống LDP1, LDP2, PH8, PH9, Các giống nhập nội từ Trung Quốc  và  giong Trung du chọn lọc.

- Vùng giữa: Phân vùng có độ cao 100 – 500m trồng các giống LDP1, LDP2 và Shan chọn lọc giâm cành. Phân vùng có độ cao 500 – 1000m  trồng giống Shan chọn lọc, TRI777 giâm cành.

- Vùng cao (hơn 1000m):  Trồng giống Shan chọn lọc tại chỗ.

3.2.2  Trồng chè bầu cây đảm bảo đúng tiêu chuẩn:

Chè giâm cành: Cây sinh trưởng trong vườn ươm từ 8 – 10 tháng tuổi. Mầm cây cao từ 20cm trở lên, có 6 – 8 lá thật, đường kính mầm sát gốc từ 4 - 5 mm trở lên, vỏ phía gốc màu đỏ nâu, phía ngọn xanh thẫm. Lá chè to, dày, xanh đậm, bóng láng, không có nụ hoa.

3.3.Thời vụ trồng:

Thời vụ giâm cành: Phía Bắc tháng 1- 2 và tháng 7- 8; phía Nam tháng 2- 3 và tháng 5 - 7.

Thời vụ trồng bầu cây: Phía Bắc ttháng 1 - 3 và tháng 8 - 9; phía Nam tháng 2- 4 và tháng 6 -7 khi đất đủ ẩm.

3.4. Trồng cây chè

Đất trồng chè phải được cày vùi phân xanh trước khi trồng ít nhất 1 tháng. Khi trồng thì bổ hố hay cày rạch sâu 20 – 25 cm theo rãnh hàng đã được đào để trồng bầu cây.

 3.4.1. Khoảng cách trồng:

- Nơi dốc < 15: Hàng cách hàng 1,4 – 1,5m, cây cách cây 0,4 – 0,5m.

                    - Nơi dốc > 15: Hàng cách hàng 1,2 – 1,3m, cây cách cây 0,3 – 0,4m.

3.4.2. Trồng cây sau khi đã bỏ túi bầu. Đặt bầu vào hố hay rạch, lấp đất, nén đất đều xung quanh bầu, lấp phủ lớp đất tơi trên vết cắt hom 1 – 2 cm, đặt mầm cây theo một hướng xuôi chiều gió chính.

                    Trồng xong tủ cỏ, rác 2 bên hàng chè hay hốc trồngdày 8 – 10 cm, rộng 20 – 30 cm mỗi bên. Loại cỏ, rác dùng để tủ là phần không có khả năng tái sinh.

3.4.3. Trồng cây phân xanh, cây che bóng:

                   Cây phân xanh là các loại cây có khả năng cải tạo đất, làm phân bón tăng chất dinh dưỡng cho cây chè, tốt nhất là các cây họ đậu.

                    Thời vụ gieo: Từ tháng 1 – 4 hàng năm, ngay sau khi làm đất, trồng chè .

                     Cách gieo: Cây hàng năm gieo giữa hàng, mật độ tuỳ theo loại cây, cách gốc chè ít nhất 40 cm về mỗi bên. Cây phân xanh lưu niên 2- 4 năm (các loại muồng, cốt khí) kiêm che bóng tạm được gieo theo cụm một đường giữa 2 hàng chè, khoảng cách tâm cụm 30 – 40 cm, mỗi cụm đường kính 3-5cm.

                    Cây bóng mát bộ đậu, thân gỗ, tán thưa, rộng, không tranh chấp nước với cây chè về mùa đông, được trồng cùng hàng hay giữa hai hàng chè, mật độ từ 150 – 250 cây/ha, trồng bằng cây ươm bầu, đảm bảo che bóng 30 – 50% ánh sáng mặt trời.

4.Kỹ thuật chăm sóc:

4.1. Giặm cây con:

        - Nương chè phải được trồng giặm cây con ngay từ năm đầu sau trồng vào những chỗ mất khoảng. Bầu cây con đem giặm có cùng tuổi cây trồng trên nương, đã được dự phòng 10%.

            Bón thêm mỗi cây 1,0 kg phân chuồng tốt trước khi trồng giặm. Trồng giặm vào ngày dâm mát, mưa nhỏ hoặc sau mưa to. Giặm chè cần được tiến hành liên tục trong thời kỳ nương chè kiến thiết cơ bản (2 – 3 năm), đảm bảo nương chè đông đặc, đồng đều

 Thời vụ trồng giặm tốt nhất vào vụ xuân sớm (tháng 1-2) mưa nhỏ, đất vừa ẩm.

       - Đối với nương chè tuổi lớn mất khoảng tiến hành trồng giặm cây con 14- 16 tháng tuổi, chiều cao 35 –40 cm sau khi bấm ngọn. Kích thước bầu lớn 25 x 12 cm, bầu đất được đóng với tỷ lệ 3 phần đất + 1 phần phân hữu cơ hoai mục đã được ủ với phân lân.

Thời vụ trồng giặm chè lớn tuổi vào tháng 8 –10 (phía Bắc), tháng 9 – 11 (phía Nam) vào cuối mùa mưa khi đất đủ ẩm.

4.2.Bón phân

4.2.1. Bón lót trước khi trồng: Sau khi đào rãnh hàng xong bón lót phân hữu cơ 20 – 30 tấn/ha và 100 – 150 kg P2O5/ha, trộn phân vào đất trồng.

4.2.2.Bón phân cho mỗi ha chè KTCB (2-3 năm sau trồng) theo bảng sau:

Loại chè

Loại phân

Lượng phân    (Kg)

Số lần bón

Thời gian bón

(vào tháng)

Phương pháp bón

       1

       2

        3

      4

           5

             6

Chè tuổi 1

      N

     P205

     K20

       40

       30

       30

      2

      1

      1

   2-3 và 6-7

        2-3

        2-3

Trộn đều, bón sâu 6-8 cm; cách gốc 25-30 cm, lấp kín.

Chè tuổi 2

 

 

Đốn tạo

 hình lần 1 (tuổi 2)

      N

    P205

    K20

      60

      30

      40

      2

      1

      1

 2-3 và 6-7

        2-3

        2-3

Trộn đều, bón sâu 6-8 cm; cách gốc 25-30 cm, lấp kín.

   Hữu cơ

 

    P205

   15.000 -

   20.000

    100

      1

 

        1

      11-12

 

      11-12

Trộn đều bón rạch sâu 15 –20 cm, cách gốc 30-40 cm, lấp kín

Chè tuổi 3

 

      N

     P205

     K20

      80

      40

      60

      2

      1

      2

2-3  và  6-7

        2-3

2-3 và 6-7

Trộn đều, bón sâu 6-8 cm; cách gốc 30-40 cm, lấp kín.

4.2.3.Bón phân cho mỗi ha chè kinh doanh.

-  Cuốc lật tòan bộ diện tích; đào rạch giữa hai hàng chè sâu 20 đến 25 cm, rộng 25 đến 30 cm trước khi đốn chè, ép xanh cành lá chè đốn hoặc chất xanh khác kết hợp bón phân hữu cơ  30 -35tấn/ha. .

- Kỹ thuật bón phân thúc: Hàng năm bón NPK theo tỷ lệ 3:1:1 với  lượng phân 35N cho 1 tấn sản phẩm + 75kg MgSO4/ha.

          Số lần bón: 4 lần trong năm.

                                                           Lần 1: Bón 30% NPK + 60% MgSO4 (Tháng 2)

                                                           Lần 2: Bón 30% NPK + 40% MgSO4 (Tháng 5)

                                                           Lần 3: Bón 25% NPK (Tháng 7)

                                                           Lần 4: Bón 15% NPK (Tháng 9)

4.3.Phòng trừ cỏ dại:

4.3.1. Đối với chè kiến thiết cơ bản:

            Xới cỏ đảm bảo cỏ sạch quanh năm trên hàng chè .

riêng chè 1 tuổi  cần nhổ tay ở gốc chè để bảo vệ được cây chè . Giữa hàng trồng xen cây phân xanh, đậu đỗ hoặc bừa xới sạch cỏ.

            Vụ xuân (tháng 1- 2) và vụ thu (tháng 8-9) xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ

            Trong năm sới gốc 2 – 3 lần, rộng 30 – 40 cm về 2 bên hàng chè.

4.3.2. Đối với chè kinh doanh:

- Vụ đông xuân: Xới sạch cỏ dại, cày giữa hàng hoặc phay sâu10 cm, lấp phân hữu cơ và cành lá già sau khi đốn, nếu hạn không cày được thì xới sạch toàn bộ.

            - Vụ hè thu: đào gốc cây dại, phát luổng hoặc xới cỏ gốc giữa hàng, bừa 3 – 4 lần hoặc phay sâu 5 cm.

            Đồi chè được tủ cỏ, rác kín đất trong vụ đông xuân thì bớt các khâu làm cỏ trong vụ hè thu.

4.4.Phòng trừ sâu bệnh:

Phòng trừ sâu, bệnh hại chè bằng biện pháp tổng hợp đảm bảo hợp lý về kinh tế và bền vững dựa trên sự phối hợp biện pháp trồng trọt, sinh học, di truyền chọn giống và hoá học, nhằm đạt sản lượng cao nhất với tác hại ít nhất trong môi trường.

Phải kiểm tra thường xuyên, phát hiện sớm để tập trung phòng trừ. Các biện pháp phòng trừ cụ thể:

            - Biện pháp canh tác: Cày bừa diệt cỏ, vệ sinh nương đồi, lấp đất diệt nhộng, diệt mầm bệnh, bón phân hợp lý, thay đổi thời kỳ đốn, hái chạy non để loại bỏ trứng sâu, mầm bệnh.

            - Biện pháp sinh học sinh thái: Trồng cây bóng mát với loại thích hợp và có mật độ đảm bảo độ ẩm trên nương chè. Hạn chế đến mức thấp nhất thuốc hoá học để đảm bảo duy trì tập đoàn thiên địch có ích, cân bằng sinh thái nương chè.

            - Biện pháp hoá học: Không phun thuốc theo định kỳ.

Phun thuốc theo dự tính, dự báo khi có sâu non hoặc khi chè mới bị bệnh.

Dùng thuốc đúng chỉ dẫn về loại, liều lượng dùng đối với các đối tượng sâu, bệnh hại. Thời gian cách ly đảm bảo ít nhất 10 – 15 ngày mới được thu hái đọt chè.

4.5.Đốn chè:

4.5.1. Đốn tạo hình:

            Lần 1: Khi chè 2 tuổi, đốn thân chính cách mặt đất 12 - 15 cm, đốn cành cách mặt đất  30 - 35 cm.

            Lần 2: Khi chè 3 tuổi đốn cành chính cách mặt đất 30 –35 cm,  đốn cành tán cách  mặt đất  40 –45 cm.

4.5.2. Đốn phớt:

Hai năm đầu mỗi năm đốn trên vết đốn cũ 5 cm. Sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3 cm, khi vết đốn dưới cùng cao 70cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1cm so với vết đốn cũ.

Tuyệt đối không cắt tỉa cành la, đảm bảo độ che phủ, khép tán trên nương.

Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách năm: Một năm đốn phớt như trên, một năm đốn sửa bằng tán chỉ cắt phần cành xanh.

4.5.3. Đốn lửng:

            Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng cách mặt đất 60 -65cm; hoặc chè năng suất khá nhưng cây cao quá cũng đốn lửng cách mặt đất 70 – 75 cm.

 4.5.4. Đốn đau:

Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 – 45cm.

4.5.5. Đốn trẻ lại:

Những nương chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10 – 25 cm.

4.5.6. Thời vụ đốn: Từ giữa tháng 12 đến hết tháng 1.

            - Nơi thường bị sương muối đốn muộn hơn, đốn sau đợt sương muối nặng.

            - Đốn đau trước, đốn phớt sau.

            - Đốn tạo hình, chè con trước, đốn chè trưởng thành sau.

            Đối với vùng đảm bảo độ ẩm, hoặc có điều kiện chủ động tưới chè có thể đốn một phần diện tích vào tháng 4-5 sau đợt chè xuân góp phần rải vụ thu hoạch chè.

4.5.7. Cách đốn và dụng cụ đốn:

- Đốn tạo tán có mặt bằng nghiêng theo sườn dốc, không làm dập cành,xây sát vỏ.

            - Đốn đau, đốn lửng, đốn tạo hình lần đầu thì dùng dao. Đốn phớt, đốn tạo hình lần 2 thì dùng kéo hoặc dao. Đốn trẻ lại, sửa cành lớn chè giống thì dùng cưa.

            - Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành lớn sinh trưởng đỉnh đều thì có thể áp dụng máy đốn để nâng cao năng suất lao động.

4.6. Tưới chè:

Nơi có điều kiện về nguồn nước, khả năng đầu tư thì có thể tiến hành tưới cho chè khi độ ẩm đất dưới 60% sức chứa ẩm đồng ruộng (vào các tháng hạn, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và các thời điểm hạn dài chính vụ quá 15 ngày).

Tưới theo phương pháp phun mưa bề mặt với vòi tưới di động hoặc cố định cho hiệu quả cao.

5.Thu hoạch và bảo quản:

5.1.Thu hoạch:

5.1.1.Hái tạo hình chè KTCB:

- Đối với chè tuổi 1: Từ tháng 10, hái bấm ngọn những cây chè cao 60 cm trở lên.

- Đối với chè 2 tuổi: Hái đọt trên những cây to khoẻ và cách mặt đất 50 cm trở lên.

5.1.2. Hái tạo hình sau khi đốn:

- Đối với chè đốn lần 1: Đợt hái đầu cách mặt đất 40 – 45 cm tạo thành mặt phẳng nghiêng theo sườn dốc. Đợt 2 hái đọt chừa 2 lá và lá cá..

- Đối với chè đốn lần 2: Đợt hái đầu cao hơn đốn lần 1 từ 25 - 30 cm, các đợt hái sau chừa bình thường như ở chè đốn lần 1.

5.1.3.Hái chè kinh doanh:

          a) Hái đọt và 2 – 3 lá non ( Xác định theo tiêu chuẩn Nhà nước TCVN 1053 -71-1054-71)

b) Thời vụ:

 Vụ xuân (tháng 3-4): Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng. Những đọt vượt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.

Vụ hè thu (tháng 5-10) : Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng. Những đọt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.

Vụ thu đông (tháng 11-12): tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá.

  5.1.4.Hái chè trên nương đốn trẻ lại, đốn đau thì tiến hành như đối với chè kiến thiết cơ bản.

 5.2 Bảo quản:

Chè bup tươi thu xong phải để nơi râm mát, bỏ trong sọt không nén chặt, không đựng trong bao kín, không để héo, lẫn bẩn với vật lạ, tạp chất va đưa đến nơi chế biến không quá 10 tiếng.

5.3.Chế biến chè xanh an toàn chất lượng cao

- Nguyên liệu: búp chè loại A theo TCVN cú tỷ lệ 1 tụm 2 lỏ > 80% trở lờn. Nguyên liệu phải được hái từ vườn chè được canh tác, đốn, hái và phũng trừ dịch hại theo qui trỡnh chố an toàn.

- Héo nhẹ: Chè hái về được rải ngay vào nong gác trên dàn héo đặt trong phòng héo thoáng khí, ít bị ảnh hưởng bởi bức xạ mặt trời. Độ dày chè rải trên nong từ 2¸4cm. Thời gian héo chè đối với nguyên liệu giống Trung du tốt nhất là 3¸4 giờ, thời gian héo nhẹ đối với nguyên liệu giống chè LDP1 là 4¸6 giờ.

- Diệt men. Bằng máy sao thùng quay chế tạo bằng thép không gỉ. Các thông số kỹ thuật áp dụng như sau:

+ Lượng chè diệt men: 1,4-1,6kg/mẻ                           

+ Thời gian diệt men: 2,5-3 phỳt                               

+ Nhiệt độ thùng sao: 250-2600C

+ Tốc độ quay thùng sao: 40-45 vũng/phỳt

+ Thủy phần chố sau diệt men: 60-62%

- Vũ và rũ tơi: Chè sau diệt men được vũ làm 2 lần (mẻ).

Lượng chè vũ thớch hợp: Với thựng vũ cú đường kính 300mm : 3,5-3,8 kg chè diệt men/mẻ vũ tương ứng 6-7kg chè tươi/mẻ.

Với thựng vũ cú đường kính 400mm: 5-6,6 kg chè diệt men/mẻ vũ tương ứng 9-12 kg chè tươi/mẻ.

Thời gian vũ mỗi mẻ: 12-15 phút.

Tốc độ vũng quay thựng vũ: 55-60 v/ph.

Sau mỗi lần vũ, chố được bỏ ra nong để rũ làm tơi các phần chè vón thành cục trước khi đem vũ lại (đối với chè mới qua 1 lần vũ) hoặc đem sấy (đối với chè đó được vũ 2 lần với đủ thời gian).

- Làm khụ: theo phương pháp sấy-sao-sấy với các thông số kỹ thuật như  sau:

Giai đoạn 1: Chè sau khi vũ và làm tơi được đem sấy sơ bộ ở máy sấy chuyên dùng (đó được chế tạo phù hợp với công suất dây chuyền)

Sấy ở nhiệt độ 100¸1100C đến khi hàm lượng nước trong chè cũn 33¸35%, thời gian sấy khoảng 4¸5 phút. Chè ra khỏi máy sấy được rải ra nong làm nguội và cõn bằng ẩm  trong thời gian 8-10 phỳt

Giai đoạn 2: Chè được sao định hỡnh trong mỏy sao thựng quay ở nhiệt độ 150¸1700C (nhiệt độ bầu lũ) đến khi hàm lượng nước trong chè cũn khoảng 8¸10%, thời gian sao khoảng 15¸20 phút. Chè sau khi sao được làm nguội và cõn bằng ẩm trờn nong trong thời gian 10¸15 phỳt.

Giai đoạn 3: Chè được sấy bằng máy sấy chuyên dùng ở nhiệt độ 95¸1000C đến khi hàm lượng nước trong chè cũn 3%, thời gian sấy khoảng 20¸25 phỳt.

- Phân loại: Với sản xuất qui mụ hộ và do chố cú tỷ lệ bồm cám không đáng kể nên phân loại chỉ cần sàng, sẩy bằng sàng tay.

- Đánh hương: Tựy theo yờu cầu thị hiếu khỏch hàng về ngoại hỡnh và hương thơm của chè và mục đích sử dụng mà chè có thể được đánh hương (sao hương) hoặc không cần đánh hương.

Đối với khách hàng ưa ngoại hỡnh cỏnh chố cú màu xanh lục sẫm và hương thơm tự nhiên hoặc mua chè làm nguyên liệu cho ướp hoa thỡ khụng cần đánh hương.

Đối với khách hàng ưa ngoại hỡnh chố cú màu sỏng bạc (mốc cỏnh) và hương cốm mạnh, chè được đánh hương trong máy sao thùng quay ở nhiệt độ 110¸1300C trong thời gian 7¸10 phút. Trước khi ra chè khoảng 1¸2 phút, điều chỉnh nhiệt độ tăng đến 150¸1700C để tạo hương cốm. 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC
Web các đơn vị
Đang online 11162
Hôm nay 2877
Hôm qua 20750
Tuần này 92287
Tuần trước 119713
Tháng này 1905404
Tháng trước 2010103
Tất cả 22512366

Lượt truy cập: 22512492

Đang online: 11256

Ngày hôm qua: 20750

online

Chào mừng bạn đến với hệ thống trả lời hỗ trợ trực tuyến.
Để liên hệ với các bộ phận xin vui lòng điền đầy đủ vào mẫu kết nối

Họ và tên


Địa chỉ Email


Yêu cầu hỗ trợ