Trung tâm NC cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc VN
caobangphiadenphiaden
WEBSITE CÁC ĐƠN VỊ
Trang chủ Lĩnh vực nghiên cứu Cây ăn quả
09/06/2017 10:05 - Xem: 912

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam sành


1. THÔNG TIN CHUNG
- Xuất xứ của quy trình: Kết quả nghiên cứu đề tài Nghị định thư với Trung Quốc:
“Nghiên cứu phòng chống bệnh greeening và trồng khảo nghiệm giống cam mới tại Hàm
Yên, Tuyên Quang”
- Tác giả/nhóm tác giả
+ Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đào Thanh Vân
+ Tham gia: TS. Nguyễn Hữu Thọ; TS. Hà Duy Trường;
- Thời gian thực hiện: 2010 - 2012
- Đơn vị công tác: Trung tâm nghiên cứu cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc Việt Nam
– Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Địa chỉ: Email: daothanhvan@tuaf.edu.vn; Điện thoại: 0912039940


2. MỤC TIÊU CỦA QUY TRÌNH
Hoàn thiện kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng chống bệnh vàng lá greeening trên
cam sành Hàm Yên (Citrus nobilis) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản
xuất cam sành ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.


3. MÔ TẢ CHI TIẾT QUY TRÌNH THỰC HIỆN
Giống cam sành Hàm Yên hiện được trồng nhiều ở các vùng Hàm Yên (tỉnh
Tuyên Quang), Lục Yên (tỉnh Yên Bái), Bắc Quang (tỉnh Hà Giang). Đây là giống cam
có vỏ dầy, khi quả chín có màu vàng đỏ, thịt quả nhiều nước, nhiều hạt, vị ngọt, thơm. Là
giống hiện nay đã được Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tuyển chọn, nhân giống
bằng vi ghép đỉnh sinh trưởng để làm sạch bệnh virus để phát triển thành vùng sản xuất ở
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
3.1. Nhân giống và tiêu chuẩn cây giống cam sành Hàm Yên
Hiện nay giống cam sành Hàm Yên chủ yếu được nhân giống bằng ghép cây. Đây
là phương pháp nhân giống chính hiện nay có nhiêu ưu điểm: cây khỏe, giữ được đặc
điểm tốt của cam sành. Các kỹ thuật chính là: gieo hạt bưởi chua hoặc chấp trong bầu,
khi gốc ghép có đường kính ± 0,8 cm là ghép được. Sử dụng phương pháp ghép mắt hoặc
ghép cành từ nguồn vật liệu đã được tuyển chọn và làm sạch virus.
Giống ổi trồng xen trong vườn cam thường là giống ổi có nguồn gốc Đài Loan
được nhân giống bằng phương pháp ghép cành bên.
Cây giống phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001. Cụ thể: cây được sản xuất
trong bầu nilon, cây nhân giống bằng phương pháp ghép, phải được tạo hình cơ bản trong
vườn ươm, có 2 - 3 cành cấp 1. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 - 0,7
cm; dài từ 50 cm trở lên, có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh.
3.2 Chọn đất, đào hố, bón lót
- Chọn đất: đất màu mỡ, thoát nước.
- Đào hố cam theo đường đồng mức trên đất dốc, trên đất bằng bố trí hố so le giữa
các hàng. Khoảng cách giữa các cây 4 - 5 m (mật độ 400 - 625 cây/ha). Kích thước hố: 80
cm x 80 cm x 80 cm.
- Đào hố ổi xen giữa các hàng cam, Khoảng cách giữa các cây 4 - 5 m (mật độ 400 -
625 cây/ha). Kích thước hố 40 cm x 40 cm x 40 cm
- Xử lý khử trùng hố bằng Foocmalin theo tỷ lệ 2%: pha thuốc, phun đều xuống hố
và đất đã đào.
- Bón phân cho mỗi hố :
+ Lượng phân bón cho cây cam: 40 - 50 kg phân hữu cơ + 0,1 kg phân đạm urê +
1,0 – 2,0 kg supe lân + 0,1 kg phân kali và 0,5 – 1,0 kg vôi bột (nếu đất chua).
+ Lượng phân bón cho cây ổi: 1,0 kg phân NPK (5:10:3)
Tất cả các loại phân trên được trộn đều với 10 – 20 gam Diaphos (thuốc trừ côn
trùng) và lớp đất mặt đưa xuống đáy hố, vun cao thành ụ cao hơn mặt đất 15 -20 cm. Hố
phải được chuẩn bị trước khi trồng 15 – 30 ngày. Chú ý: Phải đảo đều phân trộn với đất,
không được để phân tiếp xúc trực tiếp với bầu rễ cây.
Trên đất dốc > 20 độ, có thể trồng xen cây cốt khí vào giữa 2 hàng cây ổi và cam,
bằng cách rạch 2 hàng theo đường đồng mức, 2 hàng cách nhau 15 – 20 cm, gieo 30 – 50
kg hạt/ha (chú ý có thể trộn hạt với cát để gieo hạt cho đều. Khoảng cách 3 – 5 cm/hạt).
3.3 Thời vụ trồng
Nên trồng cây vào vụ Xuân (tháng 2 - 4) khi thời tiết đã ấm và có mưa ẩm.
3.4. Kỹ thuật trồng
- Xé bỏ túi nilon bầu, đặt bầu cây chính giữa hố nằm lọt vào hốc đã chuẩn bị, điều chỉnh
cho cây đứng thẳng, mắt ghép quay về hướng gió chính, dùng đất nhỏ vun vào xung quanh
bầu, dùng tay ấn nhẹ đất để đất tiếp xúc với rễ cây.
- Dùng cỏ, rác, rơm, rạ tủ kín xung quanh gốc để giữ ẩm dày 10 – 15 cm, cách gốc 15 –
20 cm. Dùng que nhỏ, cứng cắm xiên 45 độ để cố định cây trong đất.
- Sau 1 tháng kiểm tra nếu thấy cây chết phải trồng dặm để đảm bảo mật độ
3.5. Làm cỏ, tỉa bỏ mầm dại, tủ gốc, tưới nước
- Thường xuyên làm sạch cỏ gốc cam, ổi. Loại bỏ mầm dại mọc từ gốc ghép để cây
tập trung dinh dưỡng vào mầm ghép.
- Dùng cỏ, rác, rơm, rạ để tủ gốc. Tuỳ từng điều kiện nếu thấy đất khô phải tưới
nước.
3.6 Chăm sóc hàng năm cho cây cam
3.6.1 Cắt tỉa, tạo tán

- Khi cây cao 50 – 60 cm thì tiến hành bấm ngọn để cây ra các càch cấp 1 cách vị trí
ghép 25 – 30 cm. Mỗi cây để 3 - 4 càch cấp 1, phân bố đều ra các phía, tạo với thân chính
60 - 90 độ, cách nhau 30 – 40 cm. Các cành khác trên thân chính đều cắt bỏ.
- Trên mỗi cành cấp 1 để 2 - 3 cành cấp 2 cách nhau 30 – 40 cm, cành cấp 2 đầu tiên
để cách chỗ phân cành cấp 1: 40 – 50 cm, cành cấp 2 để 4 – 6 cành cấp 3, đây là cấp cành
sẽ tạo ra cành mẹ để sinh ra cành quả hàng năm.
- Thường xuyên tỉa bỏ các cành trong tán: cành tăm hương, cành vượt, cành la, cành
bị sâu bệnh để tán cây luôn thoáng.
3.6.2 Bón phân
3.6.2.1 Giai đoạn kiến thiết cơ bản: (sau trồng 1 - 3 năm)
Giai đoạn này cần bón nhiều lần trong năm để cây ra được nhiều đợt lộc, tạo khung
tán cho cây.
- Lượng phân bón: (cho 1 cây): 30 – 50 kg phân hữu cơ + 0,5 - 0,8 kg phân đạm urê
+ 0,8 - 1,2 kg phân supe lân + 0,3 - 0,4 kg phân kali + 0,5 - 1,0 kg vôi bột.
- Thời kỳ bón và lượng phân bón: bón 4 lần trong năm
 Lần 1: Tháng 2 với lượng: 40% phân đạm + 40% phân kali
 Lần 2: Tháng 5 với lượng: 30% phân đạm + 30% phân kali
 Lần 3: Tháng 8 với lượng: 30% phân đạm + 30% phân kali
 Lần 4: Tháng 11 với lượng 30 - 50 kg phân hữu cơ/cây + 0,8 - 1,2 kg
phân lân + 0,5 - 1,0 kg vôi
3.6.2.2 Giai đoạn kinh doanh
Đối với cam thâm canh từ năm thứ 4 cần căn cứ vào sản lượng dự kiến thu hoạch.

Lượng phân bón Năng suất cây cam (kg/cây)
20 40 60 90 120 150
Urê (g/cây) 650 1.100 1.300 1.750 2.200 2.600
Lân supe (g/cây) 830 1.400 1.700 2.250 2.800 3.350
Kali clorua (g/cây) 375 625 750 1.000 1.250 1.500
Phân hữu cơ (g/cây) 40 50 60 80 100 120


Thời kỳ bón: Bón phân trong thời kỳ cây cho quả được chia làm 3 lần chính: bón
sau thu hoạch quả, bón trước khi ra hoa và bón trong thời gian quả lớn. Lần bón thứ 3 có
thể được chia thành 2 - 4 lần nhỏ, tùy điều kiện từng nơi.
- Bón sau thu hoạch: toàn bộ phân hữu cơ + 10% phân đạm + 100% phân lân và
20% phân kali
- Bón vụ Xuân (trước và sau lộc Xuân xuất hiện): bón 30% phân đạm và 30% phân
kali.
- Bón thời kỳ quả lớn (chia làm 2 - 4 lần): bón 50% phân đạm và 50% phân kali.
Cách bón: Phân đạm, kali: rạch rãnh xung quanh tán cây sâu 3 – 5 cm, bón phân, lấp
đất.. Phân hữu cơ, lân trộn đều, đào rãnh xung quanh tán cây sâu 20 -25 cm, bón phân,
lấp đất.
3.7. Chăm sóc hàng năm cho cây ổi
3.7.1 Bón phân

Sử dụng phân NPK (5-10-3) với lượng 3kg/cây/năm
- Bón 6 lần trong năm, với lượng phân bón:
 Lần 1: Tháng 2 với lượng: 0,5 kg/cây
 Lần 2: Tháng 4 với lượng: 0,5 kg/cây
 Lần 3: Tháng 6 với lượng: 0,5 kg/cây
 Lần 4: Tháng 8 với lượng: 0,5 kg/cây
 Lần 5: Tháng 10 với lượng: 0,5 kg/cây
 Lần 6: Tháng 12 với lượng: 0,5 kg/cây
- Cách bón: rạch rãnh xung quanh tán cây sâu 5 – 7 cm, bón phân, lấp đất.
3.7.2 Tỉa cành, tạo tán ổi
Ổi là cây ăn quả nhiệt đới thường chịu đốn tỉa, cây ổi phải đốn tỉa nhiều để ổi ra
hoa quả ở cành non khi đốn cành non ra nhiều, có thể chọn vị trí cho ra hoa quả. Đốn tạo
hình cần làm sớm, mục đích để cành khung khỏe.
Sau trồng để cây mọc cao 100 cm thì tiến hành bấm ngọn, trên thân chính chọn 3 - 4
cành cấp 1 phân bố đều ra các phía, cành cấp 1 đầu tiên cách mặt đất 30 – 40 cm, các
càch sau cách nhau 15 – 20 cm.. Khi cành cấp 1 mọc dài 60 – 80cm thì tiến hành bấm
ngọn, chỉ để mỗi nhánh cấp 1 có 2 - 3 chồi to khỏe và phân bố đều xung quanh. Khi cành
cấp 2 ra 3 – 4 cặp lá thì tiến hành bấm ngọn. Sau một thời gian ở nách cặp lá trên cùng sẽ
mọc ra hai chồi mới, tiếp tục bấm ngọn những chồi mới như đã làm ở trên.
Chồi mới sẽ cho một cụm hoa (sau này sẽ cho một chùm quả) và một cặp chồi mới
nữa... cứ tiếp tục như vậy sau một thời gian cây sẽ có một tán mới hình nấm. Trong quá
trình chăm sóc thường xuyên tỉa bỏ những lá già, cành tăm... ở bên trong tán để vườn ổi
luôn thông thoáng, giảm bớt sâu bệnh.
3.7.3 Chăm sóc ổi
Thường xuyên làm cỏ, vệ sinh vườn ổi sạch sẽ. Mùa khô dùng cỏ rác, rơm rạ, lá
khô... tủ xung quanh gốc, tưới nước giữ ẩm thường xuyên cho cây, để cây cho nhiều quả,
mau lớn. Mùa mưa gom vật liệu che phủ gốc để gốc không bị ẩm ướt, hạn chế bệnh hại
cho cây.
3.7.4. Bao quả ổi
Quả ổi chín, cùi đã mềm thường bị ruồi đục quả đến đẻ trứng, trừng nở thành dòi
đục thối quả không ăn được. Để phòng trừ cần tiến hành:
- Biện pháp vệ sinh đồng ruộng: Thu nhặt và tiêu huỷ các quả thối, rụng bị ruồi hại,
có tác dụng hạn chế lớn số lượng ruồi hại quả.
- Thu hoạch quả sớm: chọn thời điểm thích hợp nhất thu hoạch quả, không nên để
quả quá chín trên cây, hạn chế tác hại của ruồi.
- Bao bọc quả: Dùng túi bọc quả chuyên dùng 2 lớp để bọc sau khi quả hình thành
20 - 30 ngày: bên ngoài là túi nilon mỏng có đục lỗ thoát nước, bên trong là túi xốp trắng
để quả không bị rám.Trước khi bọc quả nên phun thuốc trừ nấm bằng Ridomin 68WG.
- Dùng bả:Dùng Metyl Eugernol pha với 5% Nalet để làm bả diệt ruồi đực. Cách
làm như sau: Dùng một mảnh vải nhỏ (chiều rộng 2 cm, chiều dài 10 cm) nhúng hỗn hợp
thuốc đã pha theo tỷ lệ nói trên, treo vào các cành nhỏ dưới tán cây. Phía trên bả cần che
mảnh nilon khoảng 15 cm x 15 cm để tránh mưa. Mùi này giống mùi con cái tiết ra để
dẫn dụ ruồi đực đến giao phối nên khi chúng kéo đến sà vào bả bị ngộ độc chết hàng loạt
do thuốc Nalet. Trứng do ruồi cái đẻ ra không thể thụ tinh thì không nở ra sâu non. Mỗi
héc ta treo 4 - 5 bả, cách 1 tuần thay bả một lần. Cần treo bả ngay từ đầu vụ đến sau khi
đã thu hoạch xong một tháng nhằm hạn chế sự phát triển của ruồi cho những năm sau.
3.8. Phòng trừ sâu bệnh hại cam, ổi
3.8.1 Phòng trừ sâu bệnh hại cam
3.8.1.1 Sâu vẽ bùa

- Sâu xuất hiện quanh năm, chủ yếu hại các lộc non. Con trưởng thành là một loại
bướm rất nhỏ, cánh có ánh bạc vàng nhạt và nhiều đốn đen. Bướm đẻ trứng trên các lộc
non, sâu non nở ra đục vào thịt lá tạo nên các đường ngoằn ngoèo phủ phấn trắng. Lá bị
hại biến dạng, giảm diện tích quang hợp, tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển. Phòng trừ
bằng cách:
- Thường xuyên điều tra, phát hiện các cao điểm xuất hiện của bướm: lộc Xuân, lộc
Thu và sau khi tưới nước, bón phân…
- Phun thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu non trước khi các đợt lộc nhú rộ. Có thể phun
liên tục 3 - 4 lần/1 đợt lộc, cách nhau 5 – 7 ngày/lần.
3.8.1.2 Rày chổng cánh
Rày chổng cánh là môi giới truyền bệnh vàng lá Greening. Rầy trưởng thành dài 2-3
mm, cánh dài, màu nâu đen, xen kẽ có vệt trắng và nâu chạy dọc từ đầu đến đuôi cánh,
khi đậu phần đuôi cánh nhô cao hơn đầu. Cả ấu trùng và trưởng thành đều chích hút nhựa
cây, đặc biệt ưa chuộng các lộc non. Phòng trừ bằng cách:
- Thường xuyên điều tra, phát hiện các cao điểm xuất hiện: lộc Xuân, lộc Thu để
phun thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu non trước khi các đợt lộc nhú rộ. Có thể phun liên tục
3 - 4 lần/1 đợt lộc, cách nhau 5 – 7 ngày/lần.
- Vườn cây non thời kỳ kiến thiết cơ bản thường xuyên có lộc non, do vậy cần chú
ý theo dõi và phun định kỳ thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu non.
3.8.1.3 Sâu đục thân, đục cành
- Là sâu non của xén tóc (xanh, hoa, hoặc nâu), sâu to bằng đầu đũa, xén tóc đẻ
trứng trên kẽ các cành non, sâu non nở ra phá từ cành non xuống dần các cành già phía
dưới, làm cành héo dần khô và chết. Sâu sống trong đường ống rỗng giữa lõi cành & cứ
từng đoạn 18 – 25 cm đục ra ngoài 1 lỗ, miệng lỗ hướng xuống dưới, từ đó đùn ra bột gỗ
mới. Phòng trừ bằng cách:
- Bắt xén tóc, cắt bỏ và tiêu hủy những ngọn cành bị héo trong vụ Xuân.
- Dùng dây thép nhỏ, tay mây để chọc chết sâu hoặc bắt sâu non.
- Dùng bông tẩm thuốc bảo vệ thực vật bịt vào lỗ sâu đục
- Phun các loại thuốc bảo vệ thực vật để diệt trứng sâu..
3.8.1.4 Nhện đỏ
Nhện rất nhỏ, con trưởng thành hình ôvan, dài từ 0,3 - 0,5 mm, màu nâu đỏ. Sống
tập trung, chích hút mặt dưới lá, khi mật độ cao làm lá mất màu xanh và mất dần khả
năng quang hợp, bị nặng lá sẽ rụng hàng loạt. Trên quả, nhện gây ra các đám sần sùi, làm
giảm năng suất và phấm chất quả. Nhện thường phát triển mạnh vào mùa khô hạn và
nắng ấm, hàng năm thường có 2 cao điểm tháng 4 - 6 và tháng 9 - 11. Phòng trừ bằng
cách:
- Do nhện đỏ có vòng đời ngắn, dễ kháng thuốc nên thường xuyên phải thay thuốc.
- Thường xuyên kiểm tra vườn để phòng trừ kịp thời khi mật độ nhện còn thấp
- Dùng thuốc bảo vệ thực vật chuyên trị nhện hoặc dầu khoáng Cantex DC Tronplus
để diệt trừ nhện.
3.8.1.5 Bệnh vàng lá Greening
Tác nhân gây bệnh là một loại vi khuẩn kích thước nhỏ sống trong các mạch dẫn
của cây, làm tắc mạch dẫn, gây nên sự rối loạn trao đổi chất trong cây. Cây bị bệnh lá
biến vàng và rụng sớm, rễ nhỏ và nhanh lụi. Các đợt lá ra sau nhỏ dần, biến vàng. Cây
nhỏ, còi cọc, thường ra hoa trái vụ, quả nhỏ, lệch tâm, hạt lép nhiều. Phòng trừ bằng
cách:
- Dùng giống sạch bệnh
- Loại bỏ cây bị bệnh để hủy diệt nguồn bệnh
- Phòng trừ rầy chổng cánh
- Thâm canh đầy đủ để cây khỏe mạnh, chống đỡ bệnh tốt hơn
3.8.1.6 Bệnh loét
Nguồn bệnh là do vi khuẩn xâm nhập vào cây thông qua các lỗ khí khổng hoặc qua
các vết thương cơ giới Trong điều kiện mưa nhiều ẩm độ và nhiệt độ cao: 25 – 35 oC
bệnh phát triển nhanh.
Bệnh gây hại trên cành non, trên lá và quả. Vết bệnh lúc đầu là các mấu sần khoảng
3 – 5 mm, sau đó chuyển màu nâu vàng, xung quanh có viền vàng. Lá bị bệnh nặng úa
vàng và rụng sớm. Phòng trừ bằng cách:
- Dùng giống sạch bệnh
- Vệ sinh vườn, cắt bỏ cành lá bị bệnh để tránh lây lan
- Phun phòng bệnh bằng Boocdo 1% hoặc Casuran 0,1%
- Phòng trừ sâu vẽ bùa là côn trùng tạo vết thương để vi khuẩn xâm nhập
3.8.1.7 Bệnh chảy gôm
Bệnh thường phát sinh ở phần gốc cây, cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống
cổ rễ và phần rễ. Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị nứt và chảy nhựa
(chảy gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi
đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ. Bệnh hại nặng, lớp vỏ ngoài thối rữa (giống như bị
luộc nước sôi) và rất dễ bị tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất
cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, nếu bị một phần thì cây bị vàng
úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống dưới có thể thấy nhiều rễ cũng bị thối. Phòng trừ
bằng cách:
- Đối với vết hại cục bộ phần thân gốc: Cạo sạch vết bệnh, dùng thuốc Aliette nồng
độ 0,5% quét vào vết bệnh.
- Đối với những cây có biểu hiện triệu chứng nhẹ cần phun Aliette nồng độ 0,3%
lên toàn bộ cây.
- Chú ý đào rãnh thoát nước tốt cho vườn cây, tránh tình trạng gây úng cục bộ.
3.8.1.8 Bệnh Tristeza
Bệnh do virus CTV gây ra và thường là do rầy mềm làm tác nhân lan truyền bệnh.
Bệnh thường làm cho cây lùn, còi cọc, lá bánh tẻ thường có những đoạn trong suốt, lá
dầy, sần sùi gân cong, cây còi cọc. Trên thân thường có vết lõm, phần gỗ bên trong vặn
vẹo.
- Biện pháp phòng trừ: Kiểm dịch chặt chẽ các nguồn giống trong nước và nhập nội.
Đảm bảo sản xuất và trồng giống sạch bệnh.
3.8.2 Phòng trừ sâu bệnh hại ổi
3.8.2.1 Rầy mềm

Rầy đeo bám ở đọt non và mặt dưới lá, chích hút nhựa làm quắn đọt, chồi tăng
trưởng kém, tạo điều kiện để nấm bồ hóng phát triển. Phòng trừ bằng cách:
- Phun thuốc bảo vệ thực vật trừ côn trùng, đảm bảo thời gian cách ly thuốc trước
khi thu hoạch quả.
3.8.2.2 Rệp sáp
Rệp đeo trên thân, dọc theo gân chính ở mặt dưới lá chích hút nhựa làm khô lá,
giảm kích thước quả. Phòng trừ bằng cách:
- Phun thuốc bảo vệ thực vật trừ côn trùng, đảm bảo thời gian cách ly thuốc trước
khi thu hoạch quả. Nên kết hợp với chất bám dính ST 0,1%.
3.8.2.3 Bệnh thán thư
Nấm gây hại trên cành, lá, hoa và quả. Triệu chứng bệnh thay đổi tùy điều kiện môi
trường, thường dễ gặp, nhất là vào mùa mưa. Bệnh làm thành những chấm nhỏ, màu
hồng trên quả chưa chín, mầm bệnh tồn tại ở trạng thái ngủ suốt trong thời gian quả phát
triển và bắt đầu lan rộng thành những đốm tròn, màu nâu đen khi quả chín, trung tâm vết
bệnh còn nổi rõ những hạch cứng, quả bị bệnh nhỏ, cứng, khô và dễ rụng. Trên chồi và lá
non có thể bị nấm tấn công, chồi ngọn trở nên hơi tím, sau đó thành nâu đen, khô giòn và
dễ gãy. Phòng trừ bằng cách:
- Phun thuốc bảo vệ thực vật trừ nấm bệnh, đảm bảo thời gian cách ly thuốc trước
khi thu hoạch quả.
3.8.2.4 Ruồi vàng đục quả
Áp dụng biện pháp như phần bọc quả ổi và phòng trừ ruồi vàng đục quả (mục
3.7.4
3.9. Thu hoạch

- Cam sành hàng năm có thể thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 2. Khi hái cần nhẹ
nhàng, tránh dập nát, cần phân loại và cho vào hộp giấy (20 kg/hộp) để vận chuyển.
Không nên để quả quá lâu trên cây sẽ hại cây, ảnh hưởng đến vụ quả năm sau.
- Ổi sau trồng 8 - 10 tháng được thu hoạch, cần thu hoạch đúng lúc khi vỏ quả
chuyển từ màu xanh đậm sang màu xanh nhạt hoặc trắng. Hái quả bằng kéo cắt, phân
loại, xếp nhẹ nhàng vào hộp, có thể bọc thêm quả bằng màng xốp để tránh xây xát, vận
chuyển cẩn thận đến nơi tiêu thụ.


4. ĐỊA CHỈ VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG
Các vùng trồng cam sành ở miền Bắc Việt Nam.
 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC
Web các đơn vị
Đang online 6696
Hôm nay 10409
Hôm qua 20497
Tuần này 52616
Tuần trước 108384
Tháng này 1993151
Tháng trước 2010103
Tất cả 22600113

Lượt truy cập: 22600113

Đang online: 6696

Ngày hôm qua: 20497

online

Chào mừng bạn đến với hệ thống trả lời hỗ trợ trực tuyến.
Để liên hệ với các bộ phận xin vui lòng điền đầy đủ vào mẫu kết nối

Họ và tên


Địa chỉ Email


Yêu cầu hỗ trợ